Nguyên nhân gây nhức đầu cấp tính

Nhức đầu là triệu chứng rất hay gặp, có thể phối hợp với các triệu chứng khác như chóng mặt, buồn nôn và nôn, rối loạn ý thức, liệt nửa người hoặc liệt dây thần kinh sọ não… Triệu chứng nhức đầu do nhiều nguyên nhân gây ra, được chia làm hai thể cấp tính và mạn tính. Thường người bệnh khi có biểu hiện nhức đầu dữ dội hoặc kéo dài thường xuyên mới đi khám bệnh dẫn đến bệnh nặng khó hồi phục hoặc tử vong nếu không được điều trị kịp thời, nhất là nhức đầu cấp tính nguyên nhân do các bệnh về não.

Nhức đầu cấp tính hầu hết là do tổn thương thần kinh, trừ Glaucom góc đóng (thiên đầu thống) và cơn tăng huyết áp kịch phát. Các tổn thương thần kinh bao gồm:

Chảy máu não và chảy máu màng não: Nguyên nhân gây chảy máu não/ màng não bao gồm tăng huyết áp động mạch, bệnh mạch dạng bột, vỡ dị dạng mạch não (phình động mạch não, dị dạng thông động – tĩnh mạch não, u tĩnh mạch hang) u não, rối loạn đông máu, dùng thuốc chống đông…

Bệnh thường khởi phát đột ngột với triệu chứng nhức đầu dữ dội, nôn, rối loạn ý thức, tiểu dầm có dấu hiệu màng não (gáy cứng, kernig (+), dấu hiệu thần kinh khu trú (liệt nửa người, tổn thương dây thần kinh sọ não…). Chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp cộng hưởng từ sọ não thấy hình ảnh chảy máu ở nhu mô não hoặc não thất hay ở khoang dưới nhện. Nếu nghi ngờ chảy máu màng não mà trên phim chụp sọ não bình thường thì chẩn đoán xác định dựa vào chọc dò dịch não tủy có máu để không đông.

Áp xe não: Người bệnh có biểu hiện nhức đầu, buồn nôn, nôn, có thể có rối loạn ý thức hoặc cơn co giật, kèm theo dấu hiệu nhiễm trùng (sốt cao, rét run, môi khô, lưỡi bẩn) và dấu hiệu thần kinh khu trú (liệt hoặc tê nửa người…), dấu hiệu màng não dương tính (gáy cứng, Kernig dương tính). Khi nghi ngờ áp xe não, cần tìm ổ nhiễm khuẩn tiên phát như nhiễm khuẩn trên da, vùng hàm mặt, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, giãn phế quản… Chẩn đoán dựa vào chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp cộng hưởng từ sọ não thấy hình ảnh ổ giảm tỷ trọng ranh giới rõ ràng, có hình nhẫn, phù não xung quanh, hiệu ứng khối, ngấm thuốc cản quang vùng vỏ ổ áp xe.

Viêm màng não cấp (viêm màng não mủ, viêm màng não do virus):  Bệnh nhân bị nhức đầu dữ dội kèm theo sốt, gáy cứng. Chẩn đoán dựa vào chọc dò dịch não tủy. Trong trường hợp viêm màng não mủ, dịch não tủy đục như nước vo gạo hoặc lờ lờ như nước rửa thịt, áp lực tăng. Xét nghiệm sinh hóa và tế bào dịch não tủy thấy tăng protein và tế bào (chủ yếu là tế bào bạch cầu đa nhân trung tính), đường giảm nhiều (thậm trí còn vết), muối giảm nhẹ. Cần làm xét nghiệm soi tươi hoặc nuôi cấy và làm kháng sinh đồ. Đối với viêm màng não do virus, dịch não tủy trong, áp lực tăng, protein bình thường, đường và muối bình thường, tế bào tăng chủ yếu là lympho.

Viêm tắc tĩnh mạch não: Thường xảy ra sau viêm tắc tĩnh mạch sau đẻ hoặc từ một ổ nhiễm trùng ở các xoang, vùng hàm mặt. Vị trí hay gặp là xoang tĩnh mạch hang (liệt dây III, IV, VI, V1, mắt lồi, sưng nề vùng ổ mắt và củng mạc); xoang tĩnh mạch dọc trên; xoang tĩnh mạch bên. Ngày nay viêm tắc xoang tĩnh mạch não do nguyên nhân nhiễm khuẩn có xu hướng giảm dần, thay vào đó do nguyên nhân rối loạn đông máu. Chẩn đoán dựa vào chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ sọ não, xét nghiệm đông máu.

Bệnh Horton (bệnh gặp nhiều ở các nước châu Âu): Bệnh thường gặp ở bệnh nhân trên 50 tuổi, có biểu hiện nhức đầu cấp tính và tiến triển tăng dần. Bệnh gây biến chứng mù mắt do huyết khối động mạch trung tâm võng mạc và các nhánh của nó. Bệnh nhân xuất hiện đau ở vùng thái dương một hoặc hai bên (đôi khi vị trí không điển hình như ở vùng chẩm). Đau tăng về đêm làm bệnh nhân mất ngủ, sút cân, kèm theo sốt, có thể giảm hoặc mất thị lực ở một hoặc hai bên. Sờ động mạch thái dương thấy cứng, không đập, đau, tăng nhiệt độ tại chỗ, có thể thấy hoại tử vùng da đầu, đầu lưỡi. Xét nghiệm máu lắng tăng cao. Sinh thiết động mạch thái dương thấy có viêm từng ổ, từng đoạn.