 Chuyện xưa kể rằng: Vào mùa xuân năm ấy, có một nữ bệnh nhân tìm gặp danh y Hoa Đà để chữa bệnh. Nhìn thân hình gầy như que củi, sắc mặt vàng vọt, niêm mạc hai mắt mang màu mơ chín, Hoa Đà tiên sinh biết rằng cô gái này bị chứng "hoàng lao bệnh" hay "hoàng đản bệnh", căn bệnh mà ngày nay y học hiện
 Rất nhiều gia đình hiện nay có thói quen uống nước nấu từ lá nhân trần, nhất là khi trong nhà có người mang thai, bị các bệnh gan, thận thể nhẹ. Theo y học cổ truyền đây là một vị thuốc tốt chữa các chứng bệnh liên quan đến bệnh gan, nhưng tại cho đến nay, các chuyên gia vẫn có những quan điểm trái
 Nhân trần tên khoa học Adenosma glutinosum (L.) Druce) thuộc họ hoa mõm chó (Scrophulariaceae), tên khác là chè nội, chè cát, hoắc hương núi, tuyến hương, mao xạ hương. Từ lâu, cả cây nhân trần được dùng làm thuốc với nhiều công dụng tốt. Dược liệu có vị đắng, the, mùi thơm, tính mát, không độc, có
 Theo Đông y, nhân trần có vị đắng, cay, tính hàn, lợi mật, nhuận gan, chủ trị chứng hoàng đản viêm gan (vàng da), viêm túi mật, giải cảm nhiệt, đau đầu, chảy nước mũi, đau họng, bụng đầy trướng, tiểu tiện bí,... và nhất là các chứng bệnh của phụ nữ sau sinh.
Nhân trần còn phổ biến trong ẩm thực dưỡng
 Theo lương y Vũ Quốc Trung, có hai loại nhân trần Bắc và Nam. Nhân trần Nam còn gọi là hoắc hương núi, họ hoa mõm chó, khi khô màu nâu sẫm, mùi thơm hắc; khác với nhân trần Bắc họ cúc, màu xám hơi vàng, mùi thơm nhẹ.
Nhân trần thường mọc hoang nhiều ở các tỉnh phía Bắc như Lạng Sơn, Bắc Kạn, Cao Bằng,
 Ngải cứu còn gọi là ngải diệp, tên khoa học là Artemisia vulgaris L. thuộc họ cúc. Quanh năm đều có ngải cứu nhưng tốt nhất là hái cành và lá vào tháng 6 (gần tương ứng với mồng 5 tháng 5 âm lịch), phơi khô trong râm mát. Có khi hái về phơi khô, tán nhỏ, rây lấy phần lông trắng và tơi gọi là ngải nhung,
 Ngải cứu thường được sử dụng như một vị thuốc rất phổ biến trong cuộc sống hàng ngày nhưng với bà bầu, nó có thực sự tốt?
Chúng ta thường nghe nói ngải cứu rất tốt trong việc chữa trị bệnh đau đầu, thiếu máu và có tác dụng điều hòa kinh nguyệt ở chị em nhưng với bà bầu lại có rất nhiều lời đồn đại
 Ngải cứu còn gọi là ngải diệp, tên khoa học là Artemisia vulgaris L. thuộc họ cúc. Quanh năm đều có ngải cứu nhưng tốt nhất là hái cành và lá vào tháng 6 (gần tương ứng với mồng 5 tháng 5 âm lịch), phơi khô trong râm mát. Có khi hái về phơi khô, tán nhỏ, rây lấy phần lông trắng và tơi gọi là ngải nhung,
 Ngải cứu thuộc nhóm thảo mộc nên được sử dụng với tần suất hợp lý khi mang thai. Bất kỳ một loại thảo mộc nào đều gây ảnh hưởng nhất định lên sức khỏe người mẹ và thai nhi. Một số thai phụ cho biết, nếu ăn quá nhiều ngải cứu trong 3 tháng đầu của thai kỳ, họ dễ tăng dấu hiệu ra máu. Bởi vì, những chất
 Theo Đông y, ngải cứu có vị đắng, cay, tính hơi ấm có tác dụng điều hòa khí huyết, an thai, đau bụng do lạnh, tăng cường sức khoẻ sau sinh...Ngải cứu còn gọi là ngải diệp, thuốc cứu, nhả ngải (tiếng Tày), quá sú (Mông), co linh li (Thái)... Cây thường mọc hoang và cũng được trồng trong các gia đình.
|
|